Tacke Infotech
EN VI
Yêu cầu thẩm định

Tất cả bài viết

Dịch vụ Amazon FBA châu Âu: những gì phải xong trước khi hàng cập cảng

Phần khó của châu Âu không nằm ở hình ảnh sản phẩm hay ngân sách quảng cáo. Nó nằm ở một chuỗi đăng ký bắt buộc phải hoàn tất trước khi container rời cảng, và làm sai thứ tự thì listing có thể bị chặn đúng lúc đang bán tốt nhất.

Vì sao dịch vụ Amazon FBA châu Âu khó hơn Amazon Mỹ

Ở Mỹ, một nhà máy Việt Nam có thể mở tài khoản, gửi hàng vào kho FBA và bắt đầu bán trong vài tuần. Thuế bán hàng trên sàn do Amazon thu và nộp hộ theo luật marketplace facilitator của từng bang, nhưng việc đó không tự nó xoá hết nghĩa vụ đăng ký ở cấp bang hay nghĩa vụ thuế thu nhập của người bán. Hải quan là một hệ thống liên bang duy nhất. Nhãn viết bằng một ngôn ngữ. Châu Âu không vận hành theo cách đó, và đó là lý do dịch vụ Amazon FBA châu Âu là một trong những tuyến khó nhất mà một nhà sản xuất Việt Nam có thể chọn.

Nói vậy không có nghĩa là tuyến Mỹ không có hồ sơ tuân thủ. Với thực phẩm, FDA yêu cầu đăng ký cơ sở thực phẩm, khai prior notice cho từng lô, chỉ định đại diện tại Mỹ, và nhà nhập khẩu phải chạy chương trình FSVP; điều kiện thuế nhập khẩu áp cho hàng Việt Nam cũng thay đổi theo thời điểm. Mỹ nhẹ hơn ở phần thuế và ngôn ngữ, không nhẹ hơn ở phần an toàn sản phẩm. Tuyến đó chúng tôi tách riêng trong bài dịch vụ Amazon FBA châu Mỹ.

EU là thị trường chung về hàng hoá nhưng vẫn là hai mươi bảy hệ thống thuế và hai mươi bảy cơ quan thực thi. VAT đăng ký theo từng quốc gia nơi hàng của bạn nằm trong kho. EPR, tức trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất đối với bao bì, đăng ký riêng ở từng nước, với cơ quan riêng, số riêng, kỳ báo cáo riêng. Luật sản phẩm được hài hoà ở cấp EU nhưng nhãn phải viết bằng ngôn ngữ mà người tiêu dùng nước đó hiểu được. Và Amazon là bên kiểm tra đầu tiên chứ không phải cơ quan nhà nước: sàn thu số EPR cho một danh sách quốc gia ngày càng dài, đối chiếu với đăng ký công, và chặn listing khi số không hợp lệ.

Kiểu hỏng phổ biến nhất không phải là không bán được hàng. Nó là bán tốt ba tháng, rồi listing ở Đức bị gỡ vào tháng 11 vì thiếu số LUCID, trong khi tồn kho đã nằm sẵn trong kho FBA Đức và tiền quảng cáo đã đổ vào. Cả nghĩa vụ VAT và nghĩa vụ EPR đều tính từ lần bán đầu tiên, không phải từ ngày bạn đăng ký. Đăng ký muộn không xoá được quãng đã bán: hãy tính trước khả năng bị truy thu VAT kèm lãi chậm nộp và tiền phạt, truy nộp phí EPR ở những hệ thống cho phép cấp phép hồi tố, và bị phạt kèm gỡ listing ở những hệ thống không cho phép. Cách xử lý cụ thể khác nhau theo từng quốc gia thành viên và từng hệ thống. Chi phí sửa thường cao hơn chi phí làm đúng từ đầu.

EORI, VAT và OSS: các mã số phải có trước lô hàng đầu tiên

Hai mã số đầu dưới đây phải có trước khi hàng cập cảng, không phải sau. Mã thứ ba tuỳ vào cách bạn bán.

Chỗ nhiều người hiểu nhầm là ngưỡng bán hàng từ xa toàn EU. Ngưỡng đó chỉ mở cho nhà cung cấp thành lập, hoặc có địa chỉ thường trú, tại đúng một quốc gia thành viên. Doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam nằm hoàn toàn ngoài phạm vi đó, nên không có ngưỡng nào để dựa vào: nghĩa vụ đăng ký phát sinh ngay từ lúc hàng nhập kho. Chế độ ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2025 cũng chỉ mở cho doanh nghiệp thành lập trong EU.

Một điểm nữa ít người biết: từ ngày 1 tháng 7 năm 2021, với người bán không thành lập tại EU, Amazon là nhà cung cấp giả định cho giao dịch B2C bán từ hàng đã nằm trong EU, tức là Amazon thu và nộp VAT đầu ra thay bạn. Điều đó không xoá nghĩa vụ của bạn, và cũng không gộp hai mã số khác nhau thành một. EORI là mã hải quan cho phép bạn đứng tên nhập khẩu. Đăng ký VAT tại nước lưu kho mới là cái cho phép bạn khấu trừ VAT nhập khẩu, dùng cơ chế hoãn hoặc hạch toán chuyển tiếp VAT nhập khẩu, khai chuyển hàng nội khối của chính mình, và nộp tờ khai định kỳ. Nhiều tờ khai trong số đó sẽ không có VAT đầu ra vì Amazon đã kê khai phần đó, nhưng vẫn phải nộp.

Đi kèm là quyết định Incoterm. Với DDP, bên bán chịu thuế nhập khẩu, VAT nhập khẩu và thông quan; với DAP, phần đó thuộc bên nhận hàng. Nhưng Incoterms chỉ phân chia chi phí và rủi ro giữa hai bên theo hợp đồng. Ai là người nhập khẩu về mặt pháp lý, và ai được khấu trừ VAT nhập khẩu, là câu hỏi khác, do luật hải quan và luật VAT quyết định. Trong FBA không có người mua nào đứng ra thông quan: chính sách hiện hành của Amazon là sàn không đứng tên importer of record và không đứng tên người nhận hàng khai báo cho lô hàng nhập kho FBA, nên bên bán hoặc đại lý của bên bán phải là người nhập khẩu, chọn điều kiện nào cũng vậy. Hãy kiểm tra lại chính sách hiện hành trong Seller Central trước khi book tàu.

Riêng phần khấu trừ cần nói rõ, vì đây là chỗ mất tiền thật. VAT nhập khẩu chỉ được khấu trừ bởi bên nhập khẩu hàng dưới tên mình, đồng thời là chủ sở hữu hàng, dùng hàng cho hoạt động chịu thuế của chính mình, và có đăng ký VAT tại nước nhập. Một forwarder, một đại lý hải quan hay một bên bán "dịch vụ IOR" không bao giờ sở hữu lô hàng thì thường không khấu trừ được VAT nhập khẩu; khoản đó không mất đi mà được tính lại vào hoá đơn cho bạn. Vì vậy đừng để lô đầu tiên đi trước mã số VAT. Nếu vì lý do nào đó lô đầu buộc phải đi trước, hãy ghi VAT nhập khẩu của lô đó vào bảng giá thành như một chi phí, đừng ghi như một khoản sẽ lấy lại được.

  • EORI: mã định danh doanh nghiệp với hải quan EU, bắt buộc để đứng tên nhập khẩu, cấp bởi một quốc gia thành viên nhưng có giá trị trên toàn EU.
  • Mã số VAT tại quốc gia lưu kho: hàng nằm trong kho FBA ở Đức thì phải đăng ký VAT ở Đức. Không có ngưỡng miễn cho doanh nghiệp không thành lập tại EU. Đây cũng là mã cho phép bạn khấu trừ VAT nhập khẩu, không phải EORI.
  • OSS: kê khai VAT cho phần bán chéo biên giới B2C trong EU trên một tờ khai duy nhất. OSS chỉ cần khi chính bạn là người bán về mặt VAT: bán ngoài Amazon, webshop của bạn, hoặc khi quy tắc nhà cung cấp giả định không áp dụng. Nếu Amazon là nhà cung cấp giả định cho toàn bộ đơn của bạn thì có thể không có gì để khai qua OSS. Và OSS không bao giờ thay thế đăng ký VAT tại nước chứa hàng.

EPR bao bì: LUCID ở Đức, mã ADEME ở Pháp, Ecoembes ở Tây Ban Nha

EPR bao bì là nghĩa vụ tài chính đối với toàn bộ bao bì bạn đưa ra thị trường: thùng carton, túi, nhãn, màng co, hộp bán lẻ. Mỗi nước một hệ thống riêng.

Amazon thu và đối chiếu số EPR trước khi cho listing chạy, và danh sách quốc gia áp dụng vẫn đang dài ra: bắt đầu từ Đức, rồi Pháp, nay còn có Tây Ban Nha, Áo, Hà Lan và các store khác. Đừng giả định danh sách dừng ở Đức và Pháp; kiểm tra danh sách quốc gia và ngành hàng hiện hành trong Seller Central. Nếu sản phẩm là thiết bị điện hoặc có pin, Đức còn hai chế độ riêng nữa: ElektroG với đăng ký tại stiftung ear, và BattG cho pin, cũng qua stiftung ear. Cả hai phải hoàn tất trước khi đưa sản phẩm ra thị trường Đức, và nhà sản xuất không có cơ sở tại Đức thường phải chỉ định một đại diện được uỷ quyền đặt tại Đức mới đăng ký được.

Song song với EPR là tuân thủ sản phẩm. Dấu CE chỉ bắt buộc với các nhóm hàng nằm trong luật hài hoà của EU như đồ chơi, thiết bị điện, thiết bị bảo hộ, máy móc; trà và thực phẩm không gắn CE. Từ ngày 13 tháng 12 năm 2024, Quy định An toàn Sản phẩm Chung (EU) 2023/988, gọi tắt là GPSR, áp dụng cho hàng tiêu dùng không thuộc luật chuyên ngành và yêu cầu phải có một chủ thể kinh tế đặt tại EU chịu trách nhiệm về sản phẩm, có tên và địa chỉ đi kèm sản phẩm. Thực phẩm và thức ăn chăn nuôi nằm ngoài phạm vi GPSR; với thực phẩm, yêu cầu tương đương là phải có một cơ sở kinh doanh thực phẩm đặt tại EU. Đi theo nhánh nào thì đây cũng là chỗ người bán ngoài EU không thể tự lo bằng giấy tờ Việt Nam.

Còn một mốc nữa phải đưa vào kế hoạch. Quy định về Bao bì và Chất thải Bao bì (EU) 2025/40, gọi tắt là PPWR, bắt đầu áp dụng từ ngày 12 tháng 8 năm 2026 và dần thay thế khung chỉ thị cũ mà VerpackG hay Nghị định Hoàng gia 1055/2022 dựa trên. Điểm quan trọng nhất với người bán Việt Nam: nhà sản xuất không thành lập tại quốc gia thành viên nơi lần đầu đưa bao bì ra thị trường phải chỉ định một đại diện được uỷ quyền cho EPR tại chính quốc gia đó, và những nới lỏng đang được thảo luận cho doanh nghiệp thành lập trong EU không mở rộng sang nhà sản xuất ngoài EU. Phần chi tiết thi hành và luật nội địa của từng nước vẫn đang hoàn thiện; hãy xác nhận trạng thái hiện hành trước khi dựa vào bất kỳ mô tả nào, kể cả bài này.

  • Đức, theo VerpackG: phải đăng ký trong sổ LUCID của Zentrale Stelle Verpackungsregister và đồng thời ký hợp đồng với một hệ thống kép. Hai việc, không phải một.
  • Pháp: cần mã định danh duy nhất (identifiant unique) do ADEME cấp theo từng dòng chất thải, kèm hợp đồng với tổ chức được uỷ quyền.
  • Tây Ban Nha: theo Nghị định Hoàng gia 1055/2022, nhà sản xuất bao bì phải đăng ký trong sổ đăng ký nhà sản xuất. Với bao bì hộ gia đình thì phải tham gia một hệ thống tập thể, phổ biến nhất là Ecoembes, nhưng có những hệ thống khác. Bao bì thương mại và công nghiệp đi theo hướng riêng và về nguyên tắc có thể làm bằng hệ thống cá nhân.

Hàng thực phẩm nặng gấp đôi: FBO, nhãn EU và mã HS, trường hợp Matelier

Matelier là thương hiệu matcha và trà của chính chúng tôi, bán tại EU. Nó chạy đủ bộ hồ sơ nặng nhất mà một nhà sản xuất Việt Nam có thể gặp: VAT ở Đức, Pháp và Tây Ban Nha kèm OSS, EPR bao bì với LUCID ở Đức và Ecoembes ở Tây Ban Nha, đăng ký cơ sở kinh doanh thực phẩm, nhãn thực phẩm EU, EORI, phân loại HS và nhập khẩu DDP.

Thực phẩm thêm hai lớp. Thứ nhất, theo Quy định (EC) 852/2004, cơ sở kinh doanh thực phẩm phải được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên. Thứ hai, nhãn phải tuân thủ Quy định (EU) 1169/2011: tên sản phẩm, danh mục thành phần, dị nguyên được làm nổi bật trong danh mục, định lượng thành phần (QUID) khi thuộc trường hợp phải ghi, khối lượng tịnh, hạn sử dụng tối thiểu, điều kiện bảo quản, bảng dinh dưỡng, và tên cùng địa chỉ của cơ sở kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm đặt tại EU, viết bằng ngôn ngữ mà người tiêu dùng nước bán dễ hiểu. Chủ thể ghi trên nhãn là bên mà thực phẩm được bán dưới tên của họ, hoặc là nhà nhập khẩu nếu bên đó không đặt tại EU. Bán ở ba nước là ba phiên bản ngôn ngữ, và ba phiên bản đó có thể nằm trên cùng một nhãn đa ngữ.

Phân loại HS quyết định phần còn lại. EU dùng Danh mục Kết hợp tám chữ số và mã TARIC mười chữ số khi nhập khẩu; mã này quyết định thuế nhập khẩu và ảnh hưởng đến việc sản phẩm có được hưởng thuế suất VAT giảm hay không. Thuế suất VAT giảm của Đức hiện là 7% và trà thường nằm trong danh mục hưởng thuế suất giảm, nhưng cách phối trộn, hương liệu, thành phần thêm vào và quy cách pha sẵn để uống ngay đều có thể đẩy sản phẩm sang mã khác và sang thuế suất phổ thông. Cả thuế suất lẫn cách phân loại đều có thể thay đổi. Hãy xác nhận mã và thuế suất cho đúng SKU của bạn bằng một quyết định phân loại có giá trị ràng buộc hoặc qua cố vấn thuế tại Đức, trước khi in nhãn và trước khi chốt giá bán lẻ.

Bài học vận hành từ Matelier rất đơn giản: nhãn là nút thắt. Thiết kế lại bao bì sau khi container đã về kho FBA có thể tốn hơn cả chính lô hàng đó, vì bạn phải dán đè hoặc tiêu huỷ trong khi listing đứng im.

Pan-EU hay bán từ một kho: quyết định này quyết định số lần đăng ký thuế

Amazon cho bạn hai cách phủ châu Âu. EFN giữ hàng ở một nước và giao đi các nước khác: bạn chỉ cần đăng ký VAT ở nước chứa hàng, còn phần bán chéo biên giới khai qua OSS khi chính bạn là người bán về mặt VAT. Nếu Amazon là nhà cung cấp giả định cho những đơn đó thì Amazon kê khai, và bạn có thể không cần mở OSS; kiểm tra trước khi mở. Đổi lại, phí mỗi đơn cao hơn và thời gian giao chậm hơn.

Pan-EU thì ngược lại. Amazon tự phân bổ tồn kho sang các quốc gia lưu kho trong chương trình, và mỗi nước Amazon cất hàng là thêm một lần đăng ký VAT. Ở thời điểm viết bài, các nước lưu kho là Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha và Ba Lan; Amazon đồng thời yêu cầu sản phẩm Pan-EU phải có offer tại Hà Lan, còn lưu kho tại Séc và Ba Lan đối ứng với tồn kho ở Đức chạy qua một chương trình riêng. Danh sách này thay đổi, nên hãy xác nhận danh sách hiện hành trong Seller Central trước khi lập ngân sách đăng ký thuế. Mỗi lần chuyển hàng của chính bạn giữa hai nước thành viên là một giao dịch phải khai: vào tờ khai VAT, vào bảng kê tổng hợp giao dịch nội khối (EC Sales List) ở nước gửi hàng, và thêm Intrastat khi khối lượng vượt ngưỡng của nước đó. Đổi lại, phí FBA mỗi đơn thấp hơn và tốc độ giao tốt hơn nhiều.

Lời khuyên thực dụng: mở một nước trước, thường là Đức, vì đây là thị trường Amazon lớn nhất EU tính theo doanh thu thuần và cũng là nơi quy định thuộc nhóm chặt nhất. Làm được ở Đức thì các nước khác nhẹ hơn. Chỉ bật Pan-EU khi sản lượng đủ để phần tiết kiệm phí FBA lớn hơn chi phí tuân thủ hằng năm của đúng số nước lưu kho trong chương trình hiện hành, chứ không phải một con số phỏng đoán. Cách bóc tách từng khoản nằm trong bài chi phí bán hàng trên Amazon FBA. Bật Pan-EU sớm là cách nhanh nhất để tạo ra nghĩa vụ thuế ở những nước bạn gần như chưa bán được gì.

Thứ tự thao tác: phần mà phần lớn người bán làm ngược

Đây là phần người bán làm sai nhiều nhất. Họ mở tài khoản, dựng listing, chạy quảng cáo, rồi xử lý giấy tờ khi nào sàn đòi. Thứ tự đúng gần như ngược lại.

Lý do thứ tự này quan trọng là mỗi bước sau phụ thuộc vào dữ liệu của bước trước. Mã HS quyết định giá thành hàng về đến kho, và giá đó quyết định có nên vào thị trường đó không. Một số sổ đăng ký EPR và hồ sơ khai nhập khẩu hỏi mã số thuế của bạn, nên hãy xếp thứ tự cho phù hợp với từng hệ thống thay vì giả định luôn phải có VAT trước EPR. Nhãn thực phẩm cần tên và địa chỉ của pháp nhân EU, tức là pháp nhân phải tồn tại trước khi in bao bì. Làm ngược thì bạn in lại nhãn, sửa lại giá, hoặc dừng bán.

Thời gian cũng là lý do. Cấp mã số VAT ở các nước EU tính bằng tuần chứ không phải ngày, và hồ sơ thiếu thì quy trình đếm lại từ đầu. Nếu bạn khởi động chuỗi đăng ký cùng lúc với lệnh sản xuất, hàng sẽ về trước giấy tờ. Chúng tôi luôn bắt đầu chuỗi đăng ký trước khi chốt lô sản xuất đầu tiên.

  • Chốt pháp nhân bán hàng và ai đứng tên importer of record.
  • Phân loại HS và CN cho từng SKU, biết thuế nhập khẩu và thuế suất VAT trước khi tính giá.
  • Xin EORI.
  • Đăng ký VAT tại quốc gia sẽ lưu kho, và đăng ký OSS nếu chính bạn là người bán trong các đơn chéo biên giới.
  • Đăng ký EPR bao bì, cộng EPR thiết bị điện hoặc pin nếu có, kèm đại diện được uỷ quyền tại nước đó khi bắt buộc; với thực phẩm thì đăng ký cơ sở kinh doanh thực phẩm và hoàn thiện nhãn.
  • Chốt Incoterm với forwarder và chạy thử một lô nhỏ trước lô sản xuất lớn.
  • Mở tài khoản Amazon, verify, nhập toàn bộ số đăng ký vào Seller Central.
  • Chỉ khi mọi số đã được sàn chấp nhận mới đưa hàng vào FBA và mở quảng cáo.

Nhà sản xuất Việt Nam làm được gì, và chỗ nào bắt buộc phải có pháp nhân EU

Có những phần nhà máy Việt Nam nên tự làm vì làm tốt hơn bất kỳ ai: quy cách sản phẩm, chất lượng, cấu trúc chi phí, thiết kế bao bì, hình ảnh và vốn lưu động. Phân loại HS cũng nên có bạn tham gia cùng forwarder, vì bạn là người hiểu thành phần và quy trình sản xuất.

Có những phần thực tế không tự làm được từ Việt Nam. Hợp đồng hệ thống kép ở Đức và báo cáo khối lượng bao bì làm bằng tiếng Đức. Nhãn thực phẩm bắt buộc ghi tên và địa chỉ một cơ sở kinh doanh thực phẩm đặt tại EU, nên không có pháp nhân EU thì không có nhãn hợp lệ. Một số quốc gia thành viên yêu cầu doanh nghiệp ngoài EU chỉ định đại diện thuế, và danh sách đó thay đổi nên phải kiểm tra theo từng nước. Kê khai VAT định kỳ ở Đức, Pháp, Tây Ban Nha cần đại lý khai thuế tại chỗ. Và verify tài khoản Amazon châu Âu bằng giấy tờ Việt Nam là một quy trình riêng, dễ bị treo nếu nộp sai thứ tự; phần đó chúng tôi đi chi tiết trong bài bán hàng trên Amazon từ Việt Nam.

Tacke Infotech vận hành đúng những phần đó. Chúng tôi không phải công ty tư vấn đưa ra khuyến nghị rồi để bạn tự xoay. Chúng tôi chạy chính thương hiệu của mình trên cùng hạ tầng đó: Hoasipho, Matelier, NANANA Golf, Pomte. Với Matelier, những chế độ chúng tôi đã tự chạy là: VAT ở Đức, Pháp và Tây Ban Nha kèm OSS, LUCID và VerpackG ở Đức, Ecoembes ở Tây Ban Nha, đăng ký cơ sở kinh doanh thực phẩm, nhãn thực phẩm EU, EORI, phân loại HS và nhập khẩu DDP. Các chế độ khác nêu trong bài, như ElektroG, BattG hay EPR bao bì ở Pháp, chúng tôi mô tả theo quy định chứ không phải theo hồ sơ đã chạy cho Matelier.

Câu hỏi thường gặp

Bán hàng trên Amazon từ Việt Nam có bắt buộc đăng ký VAT ở châu Âu không?
Nếu bạn lưu hàng trong kho FBA tại một quốc gia EU thì có, bắt buộc đăng ký VAT tại chính quốc gia đó, và không có ngưỡng miễn cho doanh nghiệp không thành lập tại EU. Nếu bạn không giữ hàng trong EU mà giao thẳng từ Việt Nam theo từng đơn thì cấu trúc khác. Với lô hàng nhập khẩu có giá trị nội tại không quá 150 EUR, trừ hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, có chế độ IOSS; nhưng khi bán qua Amazon thì Amazon là nhà cung cấp giả định và kê khai bằng IOSS của chính Amazon, không phải của bạn. Doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam muốn có IOSS riêng thì phải chỉ định một trung gian đặt tại EU. Và trong cả hai trường hợp giao thẳng, bạn không dùng được FBA.
Chi phí bán hàng Amazon FBA ở châu Âu gồm những khoản nào?
Chia làm bốn nhóm. Một, phí sàn: phí giới thiệu theo ngành hàng, phí FBA theo kích thước và trọng lượng, phí lưu kho. Hai, chi phí đưa hàng vào: vận tải, thuế nhập khẩu theo mã HS, VAT nhập khẩu (chỉ khấu trừ được nếu chính bạn đứng tên nhập khẩu, sở hữu hàng và có mã VAT tại nước đó). Ba, chi phí tuân thủ định kỳ. Bốn, chi phí tăng trưởng: quảng cáo, hình ảnh, hàng mẫu, hoàn trả. Nhóm ba là nhóm hay bị bỏ sót khi tính giá, và phải tách làm hai phần: phần cố định theo năm, không phụ thuộc doanh số, gồm đăng ký ở từng nước, đại lý khai thuế và đại diện thuế nếu bắt buộc; và phần biến đổi theo lượng hàng bạn đưa ra thị trường, gồm phí EPR tính theo khối lượng và loại vật liệu bao bì, cùng khối lượng công việc kê khai.
Đăng ký VAT bán Amazon châu Âu mất bao lâu?
Thời gian khác nhau theo từng quốc gia và theo mức độ đầy đủ của hồ sơ, thường tính bằng tuần chứ không phải ngày, và dài hơn nếu cơ quan thuế yêu cầu bổ sung tài liệu hợp pháp hoá hoặc dịch công chứng. Chúng tôi không đưa ra con số cam kết. Cách xử lý an toàn là bắt đầu chuỗi đăng ký trước khi chốt lô sản xuất, chứ không phải khi hàng đã lên tàu.
Có nên bật Pan-EU ngay từ đầu không?
Thường là không. Pan-EU tạo nghĩa vụ đăng ký VAT ở mọi quốc gia Amazon cất hàng, và mỗi nghĩa vụ là một chi phí cố định hàng năm cộng thêm việc khai chuyển hàng nội khối. Pan-EU hợp lý khi sản lượng đã đủ để phần tiết kiệm phí FBA vượt chi phí tuân thủ. Trước đó, bán từ một kho qua EFN; phần bán chéo biên giới khai qua OSS nếu chính bạn là người bán, còn nếu Amazon là nhà cung cấp giả định cho các đơn đó thì Amazon đã kê khai và bạn có thể không cần OSS.
Bán trà hoặc thực phẩm sang EU trên Amazon cần những gì?
Tối thiểu: một cơ sở kinh doanh thực phẩm đặt tại EU đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, nhãn tuân thủ Quy định (EU) 1169/2011 bằng ngôn ngữ của từng nước bán, mã HS và CN chính xác, EORI, đăng ký VAT tại nước lưu kho, EPR bao bì ở từng nước áp dụng, và hồ sơ kiểm nghiệm chứng minh sản phẩm đạt các giới hạn của EU đối với nhóm hàng đó. Thực phẩm nằm ngoài phạm vi GPSR, nên phần trách nhiệm sản phẩm đi qua cơ sở kinh doanh thực phẩm tại EU chứ không qua một "responsible person" theo GPSR. Nhãn thường là việc mất nhiều thời gian nhất.

Nếu bạn muốn biết dòng sản phẩm của mình vướng ở khâu nào trước khi chi tiền cho lô hàng đầu tiên, đặt một buổi audit hoặc nhắn WhatsApp cho chúng tôi, và chúng tôi sẽ đi qua đúng danh sách đăng ký ở trên với mã HS của bạn.

Nội dung này chỉ mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý hay tư vấn thuế. Thông tin trong bài chính xác ở thời điểm ngày 12 tháng 8 năm 2026. Quy định, ngưỡng, thuế suất, chính sách của Amazon và danh sách quốc gia trong các chương trình của Amazon đều thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các quốc gia thành viên; hãy kiểm tra với cơ quan có thẩm quyền, với Seller Central hoặc với cố vấn thuế có chuyên môn trước khi dựa vào bất kỳ con số hay danh sách nào trong bài.